Toàn văn bài thuyết minh về vùng đất, con người và các di tích lịch sử – văn hoá của phường Long Phước, TP.HCM.

Phường Long Phước được chính thức hình thành trên cơ sở sáp nhập toàn bộ phường Trường Thạnh và phường Long Phước trước đây. Việc sắp xếp này được thực hiện trong quá trình tổ chức lại các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh. Phường Long Phước mới chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, với diện tích tự nhiên khoảng 34,29 km² và quy mô dân số 53.092 người. Trước khi sáp nhập, phường Long Phước và phường Trường Thạnh đều thuộc thành phố Thủ Đức. Sau khi sắp xếp, địa bàn mới mang tên phường Long Phước và trở thành một đơn vị hành chính thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Sự thay đổi này đã mở rộng quy mô địa bàn, đồng thời kế thừa những điều kiện và thế mạnh kinh tế – xã hội của khu vực trước đây.
Sau khi chính thức vận hành, Ủy ban nhân dân phường Long Phước đặt trụ sở tại 239 Khu phố Long Thuận, phường Long Phước, Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đời của phường Long Phước không chỉ là sự thay đổi về địa giới hành chính mà còn gắn với việc tổ chức lại hoạt động quản lý trên một địa bàn rộng hơn, hướng đến việc nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công và tạo thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính. Việc hợp nhất hai phường trước đây cũng tạo nên một không gian quản lý thống nhất, từ đó góp phần đồng bộ hoạt động hành chính và tạo điều kiện phát huy các nguồn lực về dân cư, hạ tầng và kinh tế – xã hội của địa phương.
Đặc điểm sau sáp nhập:


Di tích lịch sử Căn cứ Vùng Bưng 6 Xã hiện nằm trên đường Lã Xuân Oai, phường Long Trường, Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, khu vực này thuộc phường Long Trường, thành phố Thủ Đức. Theo Nghị quyết về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025, toàn bộ phường Phú Hữu và phường Long Trường cũ được sắp xếp thành phường mới vẫn mang tên Long Trường.
Vùng Bưng 6 Xã là biểu tượng tinh thần đoàn kết của quân dân Việt Nam
Căn cứ Vùng Bưng 6 Xã là tên gọi của vùng đất bưng biền thuộc cánh Nam huyện Thủ Đức xưa. Khu vực này có hệ thống sông, rạch và đường bộ quan trọng, địa hình nhiều đầm lầy, dừa nước, lau sậy và cây dại. Với vị trí nằm ven Sài Gòn, vùng đất này có ý nghĩa về quân sự, tạo điều kiện để xây dựng căn cứ cách mạng và liên kết với các căn cứ ở những khu vực ven Thành phố Sài Gòn.
Tên gọi Bưng 6 Xã được hình thành qua quá trình tổ chức địa bàn trong những năm kháng chiến. Trong thời kỳ chống thực dân Pháp, căn cứ ban đầu gồm ba xã Phước Trường, Tam Đa và Ích Thạnh. Đến năm 1952, ba xã này nhập lại thành xã Long Trường. Sang thời kỳ chống Mỹ, từ xã Long Trường, căn cứ được mở rộng thêm các xã Phú Hữu, Phước Long, Bình Trưng, An Phú và Tăng Nhơn Phú.
Căn cứ được chia thành hai khu vực chính:
Tên gọi “Vùng Bưng 6 Xã” được đặt để phản ánh sự phối hợp chặt chẽ và tinh thần đoàn kết của các xã này trong công cuộc kháng chiến. Từ năm 1960, tên gọi Căn cứ Vùng Bưng 6 Xã được sử dụng phổ biến và trở thành tên gọi của vùng đất bưng biền phía Nam Thủ Đức.
Hình ảnh chiếc xuồng ba lá được quân và dân Vùng Bưng 6 Xã sử dụng trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Vùng Bưng 6 Xã tiếp tục là địa bàn bám trụ của Huyện ủy Thủ Đức, quân và dân địa phương, Biệt động cánh Nam, Đơn vị Quân y K20 từ năm 1961 đến năm 1975 và Tiểu đoàn 4 Thủ Đức từ năm 1965 đến năm 1975. Người dân trong vùng chịu nhiều
mất mát trong các trận càn và chiến dịch tố cộng, diệt cộng. Nhiều gia đình mất nhà cửa, một số cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Tuy nhiên, quân và dân Bưng 6 Xã vẫn tìm cách bám trụ, xây dựng hầm bí mật trong nhà dân và những nơi kín đáo để nuôi giấu, che chở cán bộ, bộ đội. Hầm bí mật và cơ sở kinh tài của huyện Thủ Đức tại đình Phong Phú, cùng các hầm bí mật và lu đựng nước của người dân, được sử dụng để che giấu cán bộ, chiến sĩ hoạt động tại địa bàn.
Từ năm 1961 đến năm 1964, Huyện ủy Thủ Đức lãnh đạo nhân dân đấu tranh diệt ác phá kìm, chống việc gom dân lập ấp chiến lược và phá ấp chiến lược trở về làng. Một số gia đình ở Tăng Nhơn Phú và Phước Long trở thành cơ sở của cách mạng. Đặc biệt, khu vườn nhà ông Hai Quảnh ở xã Phước Long là nơi bộ đội đặt pháo bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, Dinh Độc Lập và kho xăng Nhà Bè trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968. Quân và dân Bưng 6 Xã cũng tự tạo các loại vũ khí như chông tre, chông bàn và chông rải bốn cạnh để đánh địch.
Trong thời kỳ này có nhiều người tham gia chiến đấu tại vùng Bưng. Đồng chí Đặng Thị Liên chỉ huy đặt mìn tại quán Minh Tâm, ấp Chợ Nhỏ, Tăng Nhơn Phú, tiêu diệt 23 tên địch ngày 4-101970. Đồng chí Võ Văn Hữu trực tiếp tham gia trận đánh mìn tại cầu Bến Nọc ngày 19-1-1970, tiêu diệt và làm bị thương 75 tên địch. Các đồng chí Ngụy Hữu Mại, Trần Văn Hưởng và Nguyễn Văn Dương tham gia đánh vào sân bay Dĩ An ngày 13-10-1971, phá hủy 8 máy bay lên thẳng của địch.
Vùng Bưng 6 Xã cũng là nơi xuất phát của lực lượng vũ trang trong các cuộc tấn công vào Thành phố Sài Gòn trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 và Chiến dịch mùa Xuân năm 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, từ ngày 26 đến ngày 30-4-1975, quân và dân Bưng 6 Xã phối hợp với các lực lượng vũ trang tiến về giải phóng Sài Gòn. Ngày 30-4-1975, sau khi chiến dịch toàn thắng, quân và dân Bưng 6 Xã phối hợp với bộ đội chủ lực tiếp quản cơ sở, kho tàng và thu gom phương tiện, vũ khí của địch để lại.
Sau chiến tranh, những đóng góp của quân và dân Bưng 6 Xã được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng. Theo các nguồn tư liệu được cung cấp, vùng Bưng có 6 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, 10 Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và hàng trăm Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, vùng Bưng vẫn là khu vực bưng biền với nhiều dừa nước, lau sậy, sông rạch và đường đất. Người dân chủ yếu sống bằng nghề nông và di chuyển bằng xuồng, ghe. Cùng với quá trình phát triển của thành phố, khu vực này dần hình thành đường sá, khu dân cư và các công trình mới.
Để ghi lại quá trình đấu tranh của quân và dân vùng Bưng 6 Xã, Khu di tích lịch sử Căn cứ Vùng Bưng 6 Xã được khởi công xây dựng năm 1995. Công trình gồm nhiều hạng mục như Tượng đài
Chiến thắng cánh Nam Thủ Đức, Nhà bia ghi danh các Anh hùng Liệt sĩ, Nhà trưng bày truyền thống và công viên. Năm 2008, khu di tích được xếp hạng Di tích lịch sử cấp thành phố.
Khu di tích hiện có diện tích khoảng 15ha, địa hình được chia cắt bởi nhiều con rạch. Nhà trưng bày truyền thống nằm ở khu vực trung tâm, lưu giữ hình ảnh và nhiều hiện vật liên quan đến cuộc đấu tranh của quân và dân Vùng Bưng 6 Xã. Tại đây có các loại súng, vũ khí và những hiện vật gắn với quá trình xây dựng, bảo vệ căn cứ. Một sa bàn tái hiện vùng đất với hệ thống kênh rạch, dừa nước, gò tràm, đầm lầy và đường đất, giúp người tham quan hình dung đặc điểm của căn cứ trước đây. Khu di tích cũng có bảng vàng ghi tên các Mẹ Việt Nam anh hùng và Ban chỉ huy trận đánh ngày 30-4-1975.
Nhà bia ghi danh các Anh hùng Liệt sĩ là nơi lưu lại tên tuổi những người đã hy sinh trong chiến tranh. Đây cũng là nơi người dân và các đoàn đến thắp hương, tưởng niệm. Những hình ảnh, hiện vật và tên tuổi được lưu giữ tại khu di tích là những tư liệu giúp giới thiệu quá trình hoạt động của căn cứ và những đóng góp của quân, dân Vùng Bưng 6 Xã trong hai cuộc kháng chiến.
Sau nhiều năm phát triển, khu vực từng là Vùng Bưng 6 Xã đã có nhiều thay đổi. Những vùng đất bưng biền với lau sậy, dừa nước và đường đất trước đây dần được thay thế bằng đường giao thông, khu dân cư, nhà cao tầng và các công trình công nghiệp. Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 160 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư khoảng 12 tỷ USD, trong đó có các doanh nghiệp và tập đoàn như Intel, Jabil, Rockwell Automation, Nidec, Nipro, NTT, Samsung và Sonion. Các tuyến đường trong khu vực được mở rộng, kết nối vùng Bưng với các khu vực khác của thành phố.
Trong sự thay đổi đó, Khu Di tích lịch sử Căn cứ Vùng Bưng 6 Xã vẫn được giữ lại trên đường Lã Xuân Oai, phường Long Trường. Từ một vùng đất bưng biền từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân địa phương bám trụ trong chiến tranh, khu vực này nay đã trở thành một phần của đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Khu di tích là nơi lưu giữ hình ảnh, hiện vật và tên tuổi những người đã tham gia, hy sinh trong hai cuộc kháng chiến, đồng thời là địa điểm để người dân, học sinh và các đoàn đến tìm hiểu lịch sử, thắp hương tưởng niệm.
Với những nội dung còn được lưu giữ tại Nhà trưng bày truyền thống, Nhà bia ghi danh các Anh hùng Liệt sĩ và các hạng mục trong khu di tích, Căn cứ Vùng Bưng 6 Xã hiện nay là một địa điểm tham quan gắn với lịch sử của vùng đất Thủ Đức xưa. Qua việc tìm hiểu di tích, người tham quan có thể biết thêm về quá trình hình thành căn cứ, hoạt động của quân và dân địa phương trong hai cuộc kháng chiến và sự thay đổi của vùng đất này từ một khu vực bưng biền thành khu vực đô thị, công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh.




Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Tùng Chinh Năm 12 tuổi, Ngô Tùng Chinh bắt đầu tham gia cách mạng, được giao nhiệm vụ làm giao liên nội thành và vận chuyển vũ khí. Khi vẫn đến trường như những đứa trẻ khác, trong cặp của ông khi ấy không chỉ có sách vở mà còn có biểu ngữ, tài liệu hoạt động cách mạng; những thứ gắn với công việc của một người giao liên nhỏ tuổi còn có kíp nổ và dây điện dùng để chế tạo vũ khí. Khoảng hai năm sau, ông nhận tin người anh thứ ba hy sinh khi đang làm nhiệm vụ. Trong hoàn cảnh gia đình hoạt động bí mật, người thân không thể tổ chức tang lễ cho người anh đã mất. Sau biến cố đó, ông xin gia nhập tổ chức Biệt động Sài Gòn. Trong quá trình hoạt động, Ngô Tùng Chinh còn nghiên cứu cách cải tiến kíp nổ. Nhận thấy những kíp nổ đồng đội giấu dưới nước khi đưa lên sử dụng thường bị “lép”, ông nhiều đêm nghiên cứu và chế tạo kíp nổ bằng nụ xòe có công dụng như kíp nổ hẹn giờ, đồng thời chế tạo kíp nổ tự động. Trong khoảng thời gian từ năm 1967 đến năm 1969, ông tiếp nhận và vận chuyển 20 đợt vũ khí,
trực tiếp chiến đấu trong 8 trận và cùng đồng đội tham gia 4 trận, gây thương vong cho hàng trăm binh lính và sĩ quan của đối phương.
Một chiến công được nhắc đến là trận đánh tại Ty Chiêu hồi vào tháng 11/1968, thời điểm Ngô Tùng Chinh mới tham gia Biệt động Thành đoàn được khoảng một năm. Theo phương án được ông kể lại, lực lượng chiến đấu đặt quả nổ đầu tiên nhằm làm đối phương hoảng loạn, sau đó tiếp tục sử dụng quả thứ hai khi đối phương chạy ra phía cổng. Trận đánh đã tiêu diệt 10 tên và làm 16 tên bị thương.
Năm 1969, Ngô Tùng Chinh bị bắt và giam tại khám Chí Hòa. Tại phiên tòa, trước lời đề nghị xử nặng của công tố viên, ông khẳng định mình chưa phải là đảng viên mà đang phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản. Những phản ứng tại phiên tòa đã tạo thành một cuộc đấu tranh khiến việc xét xử bị hoãn, nhưng sau đó ông vẫn bị tuyên án 10 năm khổ sai và 5 năm lưu đày biệt xứ.
Sau khoảng hai năm ở khám Chí Hòa, do còn ở độ tuổi thiếu nhi, ông được đưa đến Trung tâm giáo huấn thiếu nhi Đà Lạt, thực chất là nhà tù dành cho thiếu nhi. Nơi đây giam giữ hơn 600 tù nhân từ 12 đến 17 tuổi dưới sự chỉ huy của Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn. Trong thời gian bị giam giữ, Ngô Tùng Chinh cùng các bạn tù đấu tranh chống chào cờ, chống đàn áp, đòi các yêu sách và quyền dân sinh, dân chủ. Ông trở thành một trong những người lãnh đạo bí mật của các tù nhân. Các chiến sĩ nhỏ tuổi nhiều lần bị tra tấn, đàn áp; trước tình hình đó, họ tổ chức tuyệt thực và sử dụng hình thức tự mổ bụng để gây sức ép. Tổ chức chỉ chọn 5 người tham gia và hướng dẫn cách thực hiện nhằm không để dẫn đến hy sinh. Sau khoảng hai năm đấu tranh, nhà lao phải chấp nhận một số yêu sách; các tù nhân cũng tổ chức nhiều cuộc vượt ngục để đưa sự thật về nhà lao ra bên ngoài. Dưới sức ép của những cuộc đấu tranh và dư luận trong nước, quốc tế, giữa năm 1973, nhà lao chính thức bị xóa sổ.
Sau chiến tranh, Ngô Tùng Chinh tiếp tục con đường học tập còn dang dở. Ông dành khoảng 20 năm đèn sách, học bổ túc cấp 2, cấp 3 và lấy các bằng cử nhân kinh tế, cử nhân luật, cử nhân chính trị cùng bằng thạc sĩ xây dựng Đảng. Sau đó, ông được phân công giữ nhiều chức vụ quan trọng và trở thành Vụ trưởng, Trưởng cơ quan đại diện phía Nam Ban Thi đua khen thưởng Trung ương. Khi nghỉ hưu, ông tiếp tục nghiên cứu tư liệu lịch sử, khoa học, tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, thành lập quỹ hỗ trợ và chăm lo cho thương bệnh binh, cựu chiến binh có công với đất nước.
Ông cùng đồng đội tiếp tục tìm kiếm tư liệu chứng minh sự tồn tại của nhà lao chuyên giam giữ thiếu nhi như tù nhân chính trị tại Đà Lạt, đồng thời trực tiếp viết “Tuổi trẻ bất khuất”, ghi lại những tư liệu và tố cáo tội ác tại nhà lao thiếu nhi. Bên cạnh đó, ông sử dụng tiền tích góp để khởi nghiệp một khu sinh thái, tạo việc làm cho người lao động địa phương; đóng góp kinh phí nâng cấp, mở rộng hẻm cho người dân, xây dựng 1km đường D1 ở khu phố Lân Ngoài và đóng góp kinh phí chỉnh trang, nâng cấp nhà bia tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại phường Long Phước.
Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhì và hạng Ba. 2. Phòng truyền thống Ngô Tùng Chinh Phòng truyền thống Ngô Tùng Chinh được bố trí ngay trong căn nhà của ông tại phường Long Phước, TPHCM. Đây là một phòng riêng có quy mô lớn, được sử dụng để trưng bày và lưu giữ các tài liệu, kỷ vật quý giá gắn với thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Không gian này được hình thành từ chính quá trình ông gìn giữ những tư liệu và kỷ vật liên quan đến những năm tháng hoạt động cách mạng của mình.
Điểm đáng chú ý của phòng truyền thống không chỉ nằm ở những tài liệu, hiện vật được lưu giữ mà còn ở cách những kỷ vật được giới thiệu. Mỗi khi có khách đến thăm, ông Ngô Tùng Chinh trực tiếp đưa khách vào phòng và kể về ý nghĩa của từng đồ vật. Qua lời kể của ông, những kỷ vật không chỉ là những vật được giữ lại từ quá khứ mà trở thành những dấu mốc giúp người nghe hình dung về một giai đoạn chiến tranh và cuộc đời hoạt động của người chiến sĩ.
Các tư liệu và kỷ vật trong phòng gắn với thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó có những dấu tích liên quan đến quá trình hoạt động cách mạng mà ông đã trải qua. Việc lưu giữ những kỷ vật này cũng phù hợp với công việc ông tiếp tục thực hiện sau khi nghỉ hưu là tìm tòi,
nghiên cứu tư liệu lịch sử và cùng đồng đội tìm kiếm những chứng cứ về Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt. Những tư liệu lịch sử được ông và đồng đội tìm kiếm, nghiên cứu sau này còn được thể hiện trong tác phẩm “Tuổi trẻ bất khuất”.
Vì nằm trong nhà riêng của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Tùng Chinh, phòng truyền thống mang tính chất của một không gian lưu giữ tư liệu và kỷ vật cá nhân, đồng thời là nơi ông trực tiếp giới thiệu những giá trị lịch sử mà mình đã gìn giữ. Khi khách đến thăm, ông không chỉ cho xem hiện vật mà còn giải thích về ý nghĩa của từng đồ vật, qua đó giúp người nghe hiểu thêm về những năm tháng chiến đấu và những ký ức được lưu giữ qua nhiều năm.



Bảo tàng Áo Dài là một trong những bảo tàng tư nhân chuyên đề nổi bật tại TP.HCM, được khởi xướng và xây dựng từ ý tưởng của họa sĩ – nhà thiết kế nổi tiếng Sĩ Hoàng. Bảo tàng trưng bày hơn 300 mẫu áo dài truyền thống qua các thời kỳ, kết hợp không gian kiến trúc dân gian, tái hiệnđờisống văn hóa Việt. Từ năm 2015, nơi đây được Công ty CP Dấu Ấn Việt Nam tiếp quản và phát triển, dần trở thành địa chỉ thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Với vai trò là bảo tàng chuyên đề về trang phục truyền thống, Bảo tàng Áo Dài góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa của tà áo dài Việt Nam đến đông đảo công chúng. Không chỉ trưng bày hơn 300 mẫu áo dài qua các thời kỳ, nơi đây còn tạo nên không gian giao thoa giữa lịch sử, nghệ thuật và đời sống đương đại.
Áo dài Việt Nam đã trải qua một hành trình dài với nhiều biến đổi để trở thành biểu tượng văn hóa như ngày nay. Mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại dấu ấn riêng, định hình nên vẻ đẹp và ý nghĩa của tà áo dài:
Áo dài tứ thân (Thế kỷ 17): Ra đời vào thế kỷ 17, áo tứ thân phản ánh kỹ thuật dệt vải thời bấy giờ với khổ vải hẹp. Thân áo trước được may tách riêng, thân sau khâu ghép lại. Ngày nay, áo tứ thân thường xuất hiện trong các dịp lễ hội truyền thống.
Áo dài năm thân (Thế kỷ 19): Phát triển từ áo tứ thân, áo dài năm thân gồm hai khổ vải may nối thành thân trước kín đáo và một thân phụ bên phải. Bốn thân áo ngoài tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, còn thân thứ năm tượng trưng cho người mặc. Áo có 5 cúc (khuy) thể hiện đạo lý nhân - lễ nghĩa - trí - tín.
Áo dài vương triều Nguyễn (thế kỷ 19): Vào thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn, áo dài được may từ các loại vải quý giá, thêu hoặc dệt những hoa văn trang trí hình chim phượng, dơi, mặt trời, hoa trái và bát bửu. Áo thường có lớp lụa lót bên trong, thể hiện sự sang trọng và quyền quý của hoàng gia.
Áo dài “Lemur”/tân thời (Thập niên 1930): Xuất hiện vào những năm 1930, áo dài tân thời do họa sĩ Nguyễn Cát Tường thiết kế, mang đến nhiều biến thể đa dạng về cổ áo, tay áo, vạt áo và kiểu khuy cài, tạo nên một cuộc cách mạng trong phong cách áo dài.
Áo dài cổ cao (Thập niên 1950): May chít eo, ôm sát người với cổ áo rất cao, tôn lên vẻ đẹp hình thể và dáng vóc của người mặc.
Áo dài Raglan (Cuối thập niên 1950): Ông Đỗ Thành đã áp dụng lối ráp tay raglan xéo vai từ âu phục vào áo dài, giúp phần nách áo bớt nhăn, tạo sự thoải mái và được sử dụng phổ biến đến ngày nay.
Áo dài cổ thuyền (Cuối thập niên 1950): Gây chấn động trong giới thời trang quý bà, phù hợp với thời tiết nóng bức của miền Nam và vẫn phổ biến cho đến hiện tại.
Áo dài Hippy (Cuối thập niên 1960): Chịu ảnh hưởng từ trào lưu Hippies, áo dài giai đoạn này có vạt hẹp và ngắn đến đầu gối, thân áo rộng không chít eo, cổ thấp. Quần may rất dài với ống rộng đến 60cm hoặc mặc với quần tây, thịnh hành đến giữa thập niên 1990.
Áo dài vẽ (Cuối thập niên 1980): Họa sĩ, nhà thiết kế Sĩ Hoàng đã đưa ngôn ngữ hội họa vào áo dài, mở đầu trào lưu áo dài vẽ tay trên vải với các họa tiết hoa lá, lập thể, hoa văn cổ, phong cảnh, mang tính dân gian hóa.
Áo dài thổ cẩm (Thập niên 1990): Do Nhà thiết kế Đặng Thị Minh Hạnh sáng tạo, sử dụng chất liệu thổ cẩm của các dân tộc thiểu số Việt Nam. Vải dệt thủ công với họa tiết nổi lên mặt vải, mang đậm nét truyền thống của các dân tộc ít người.
Bảo tàng Áo Dài không chỉ là nơi trưng bày trang phục mà còn là một quần thể kiến trúc độc đáo, tôn vinh vẻ đẹp truyền thống Việt Nam. Công trình này là sự giao thoa hài hòa giữa phong cách nhà rường cổ kính của Quảng Nam và dấu ấn đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ, tạo nên một không gian rộng mở, kết nối với thiên nhiên và khơi gợi nhiều cảm xúc về giá trị văn hóa.
Với diện tích gần 20.000m², Bảo tàng Áo Dài được phục dựng chủ yếu bằng gỗ bởi nghệ nhân Kim Bồng, bao quanh là khuôn viên xanh mát, ao hồ và vườn tược gợi nhớ không gian Nam Bộ xưa.
Nơi đây gồm nhà trưng bày, từ đường, khu trải nghiệm và sân khấu nổi trên hồ Chân Lạc – mô phỏng sân đình làng, là điểm diễn ra nhiều hoạt động văn hóa – nghệ thuật, mang đến không gian học tập và giao lưu đầy cảm hứng.
Bảo tàng có 3 khu chính : khu trưng bày lịch sử áo dài, nhà từ đường và nhà cổ Kim Bồng.
Khu trưng bày lịch sử áo dài: Nhà trưng bày có diện tích khoảng 200m2với thiết kế theo lối nhà rường bằng gỗ, mái ngói âm dương và bao quanh bởi tường gạch. Theo lối vào, bên phải nhà trưng bày thể hiện lịch sử phát triển của áo dài qua các thời kỳ. Bên trái là nơi trưng bày các bộ áo dài gắn liền với những nhân vật phụ nữ nổi bật trong lịch sử, các áo dài của văn nghệ sĩ và một số tôn giáo.
Nhà trưng bày hơn 300 mẫu áo dài từ các thời kỳ
Nhà Từ Đường Nhà: là nơi thờ tổ nghề may, có kiến trúc mang âm hưởng kiến trúc Huế, thể hiện mối liên kết giữa tâm linh với di sản văn hóa phi vật thể. Nhà từ đường mang lại cho công trình kiến trúc một chiều sâu văn hóa với tinh thần “uống nước nhớ nguồn”- truyền thống tốt đẹp qua bao thế hệ của con người Việt Nam.
Khu trưng bày các máy may các thời kỳ
Cuối cùng là khu lưu niệm và nhà nghỉ khách, được thiết kế gợi nhớ đến phố cổ Hội An, với những ngôi nhà cổ kính.
Bảo tàng Áo dài nằm trên khu đất rộng khoảng 20.000 m2 với phần lớn là khuôn viên xanh mát của ao hồ, cây si, bến thuyền và vườn tược gợi nhớ khung cảnh làng quê Nam Bộ với cảm giác thanh bình, thư thái. Không gian xanh bao quanh khu trưng bày tạo cho du khách một mối liên kết hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Nhà cổ Kim Bồng: Đây là công trình mang đậm dấu ấn truyền thống của Trung Bộ. Khu vực này chủ yếu được dùng để triển lãm các chuyên đề về áo dài và văn hóa. Ngoài ra, nhà cổ còn là nơi để đón tiếp và trải nghiệm ẩm thực cho du khách tham quan. Khu trải nghiệm và sân khấu nổi trên hồ Chân Lạc: Mô phỏng sân đình làng, khu trải nghiệm và sân khấu nổi trên hồ Chân Lạc Là điểm diễn ra nhiều hoạt động văn hóa – nghệ thuật, mang đến không gian họctập và giao lưu đầy cảm hứng.Ý tưởng lấy sân đình làm trung tâm hoạt động đã gợi nên cảm giác gần gũi, đậm nét văn hóa Việt Nam.
Cấu trúc trưng bày Áo Dài: Áo Dài tứ thân ra đời vào thế kỷ 17. Thời này do khổ vải dệt chỉ từ 35 - 40cm, nên thân áo trước là hai tà tách riêng, thân áo sau được khâu ghép lại với nhau thành một đường dài gọi là sống áo nên gọi là tứ thân.Áo tứ thân được may màu vải nâu, không có khuy cài, thả dài xuống hoặc được cột gọn khi làm việc đồng áng, buôn bán. Bên trong mặc chiếc yếm có màu đậm dành cho phụ nữ đứng tuổi hay màu trắng, màu thắm đỏ hoa đào dành cho các cô gái trẻ. Ngoài yếm là chiếc áo cánh ngắn màu trắng. Dải lụa dài màu xanh thắt giữa áo cánh với cạp váy đen. Ngày nay, áo dài tứ thân được mặc trong các dịp lễ hội truyền thống.
Áo dài tứ thân mang nét truyền thống mộc mạc từ thế kỷ 17
Áo Dài năm thân (khoảng 1884): gồm hai khổ vải được may nối lại với nhau thành thân trước kín đáo, có một thân phụ nằm dưới về phía bên phải. Bốn Thần áo bên ngoài tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu là cha mẹ mình và cha mẹ người thương, còn thân áo thứ năm tượng trưng cho người mặc. Áo luôn có 5 cúc (khuy) cài áo thể hiện đạo lý làm người của người Việt Nam là nhân - lễ -nghĩa - trí - tín.
Áo dài năm thân là biểu tượng của đạo lý và sự kín đáo
Áo Dài vương triều nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX: được may bằng các loại vải quý giá, thêu hay dệt những hoa văn trang trí hình chim phượng, con dơi,mặt trời, trái bầu, hoa trái và bát bửu, màu ngũ sắc… bên trong có lớp lụa lót.Vào mùa thu và đông, áo mang chất liệu gấm, mùa xuân và hạ dùng vải sa, vân.Vì màu nhuộm dễ phai, người ta không giặt áo mà chỉ phơi nắng một năm vài lần rồi ướp thơm bằng trầm, đặt trong tráp gỗ. Bên trong, người mặc phối cùng áo dài lót bằng vải trắng để dễ giặt.
Áo dài vương triều Nguyễn mang vẻ đẹp quyền quý và tinh xảo
Áo Dài tân thời hay áo dài Lemur xuất hiện vào những năm 1930 do họa sĩ Nguyễn Cát Tường vẽ kiểu. Ông đã tạo kiểu và tạo dáng: có cổ, không cổ, có tay, tay ngắn, không tay, vai bồng, vai xẹp, cổ tay xoè, không xòe, có khuy,không khuy, vạt áo dài, vạt áo ngắn…
Áo dài Lemur là sự cách tân táo bạo của thập niên 1930
Áo Dài cổ cao xuất hiện vào những năm 1950, được may chít eo, ôm sát vào người. Cổ áo rất cao, kiểu áo dài này tôn lên rất nhiều vẻ đẹp hình thể và dáng vóc của người mặc.
Áo dài cổ cao tôn vinh vóc dáng thanh thoát của phụ nữ Việt
Áo Dài Raglan ra mắt vào cuối những năm 1950 khi thời trang áo dài bắt đầu thịnh hành. Đó cũng là thời điểm ông Đỗ Thành áp dụng lối ráp tay raglan xéo vai trong âu phục vào áo dài, để phần nách áo dài bớt nhăn. Sự đóng góp của ông Đỗ Thành trong việc cải tiến áo dài và sử dụng phổ biến cho đến ngày nay đã được ghi nhận trân trọng.
Áo dài Raglan được cải tiến mang lại sự thoải mái và hiện đại
Áo dài cổ thuyền xuất hiện vào cuối những năm 1950. Áo dài đã gây chấn động trong thế giới thời trang quý bà. Áo dài cổ thuyền phù hợp với thời tiết nóng bức của miền Nam nên vẫn được phổ biến đến ngày nay.
Áo dài cổ thuyền mang phong cách phóng khoáng, phù hợp khí hậu miền Nam
Áo Dài Hippy và áo dài Midi ra đời vào cuối những năm 1960 với sự ảnh hưởng bởi trào lưu văn hóa và thời trang Hippies bắt nguồn từ Mỹ. Vạt áo may hẹp và ngắn đến đầu gối, thân áo rộng lượn theo dáng người và không chít eo,cổ áo thấp, quần được may rất dài với ống rộng đến 60cm, hoặc mặc với quần tây. Kiểu áo dài này thịnh hành mãi đến giữa thập niên 1990.
Áo dài Hippy là dấu ấn tự do, phóng khoáng của thập niên 1960
Áo Dài vẽ xuất hiện vào cuối những năm 1980, do họa sĩ, nhà thiết kế thời trang Sĩ Hoàng đưa ngôn ngữ hội họa vào trang phục áo dài truyền thống. Mở Đầu cho một trào lưu áo dài được vẽ bằng tay trên vải với những trang trí hình hoa lá, lập thể, hoa văn cổ, phong cảnh,…
Áo dài vẽ – sự kết hợp độc đáo giữa hội họa và trang phục truyền thống
Áo Dài thổ cẩm ra đời vào những năm 1990 được thiết kế bởi Nhà thiết kế Đặng Thị Minh Hạnh. Bà đã sử dụng thổ cẩm của người đồng bào thiểu số Việt Nam. Vải dệt thủ công có họa tiết nổi lên mặt vải giống như được thêu theo phương pháp truyền thống của các dân tộc ít người.
Áo dài thổ cẩm tôn vinh vẻ đẹp văn hóa dân tộc thiểu số Áo Dài trẻ em từ 2008 là sản phẩm thiết kế của các học sinh đạt giải Hội Thi NÉT VẼ XANH. Cuộc thi vẽ Áo Dài trẻ em - Không chỉ đơn thuần là phát hiện những mầm non hội họa để bồi dưỡng và phát triển. Sâu xa hơn, cuộc thi là để gieo mầm yêu thương đối với Áo Dài vào tận tiềm thức của những em bé bây giờ - sẽ là những người lớn sau này. Thúc đẩy tình yêu Áo Dài trở thành sự chủ động, tự nguyện, đủ sâu đủ đậm. Để Áo Dài sẽ luôn chiếm vị trí ưu tiên trong tình cảm cũng như lựa chọn trang phục của nhiều thế hệ tương lai. Áo Dài Hội nhập: Trong thế kỷ XXI với mong muốn Thế giới trong tà Áo Dài Việt Nam như thông điệp tại Lễ hội Áo Dài - Festival Huế 2014. Cần phải hướng kiểu dáng Áo Dài truyền thống thành quốc tế hóa, dung hòa nền văn hóa bản địa tầng quốc gia cộng hưởng được với bản sắc văn hóa Việt. Tạo thành một trào lưu thời trang Áo Dài hội nhập, người nước ngoài có thể làm quen, yêu mến và mặc Áo Dài như một trang phục mang hơi thở thời đại, đẹp và tiện dụng.
Áo Dài nhã nhạc cung đình Huế: Trang phục nhã nhạc được thiết kế theo phong cách cổ trang. Quần áo có rất nhiều kiểu dáng, màu sắc họa tiết độc đáo.Điều này đã thành công tạo nên điểm ấn tượng lớn và hấp dẫn ánh nhìn của người xem. Trang phục nhã nhạc được đầu tư vô cùng kỹ lưỡng. Hơn nữa, nó cũng sẽ được xem xét cẩn thận về sự phù hợp cho từng bản nhạc trước khi trình diễn. Áo Dài trong thời kỳ khói lửa chiến tranh không chỉ là trang phục mang giá trị lịch sử mà còn gợi nhắc về tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh, đồng thời tôn vinh hình ảnh Áo Dài như một biểu tượng của lòng yêu nước, của vẻ đẹp dung dị nhưng đầy tự hào dân tộc: Áo Dài Thiếu Tướng Nguyễn Thị Định, Áo Dài của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình.
Từ trái sang phải là áo dài của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Đại sứ của Việt Nam tại Áo và Canada Nguyễn Thị Hồi, nguyên Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa và bà Tôn Nữ Thị Ninh
Áo Dài của các văn nghệ sĩ nổi tiếng, các nhà giáo ưu tú: Hình ảnh người nghệ sĩ, các nhà giáo ưu tú trong tà áo dài không chỉ phản ánh phong cách và câu chuyện của họ mà còn thể hiện sự hòa hợp, gắn bó giữa Áo Dài với đời sống nghệ thuật và văn hóa Việt Nam: Áo Dài của NSƯT Thành Lộc, NSND Hồng Vân, ca sĩ Khánh Ly, Áo Dài của giáo sư Michiko Yoshi,...
Áo dài của các nghệ sĩ trao tặng, từ trái sang phải lần lượt là NSƯT Thành Lộc, NSND Hồng Vân, NSND Kim Xuân, ca sĩ Ánh Tuyết, diễn viên Thanh Thủy, ca sĩ Khánh Ly













Chí Minh khoảng 20km và có khả năng đón khoảng 1.500 lượt khách mỗi ngày. Công trình do Công ty Cổ phần Dịch vụ Giải trí – Giáo dục và Ẩm thực Long Gia tổ chức đưa vào hoạt động.
Dragon Farm được xây dựng theo mô hình “làng quê Tây Nam Bộ thu nhỏ”, tái hiện những hình ảnh quen thuộc của vùng nông thôn Nam Bộ trong không gian sinh thái giữa lòng đô thị. Ngay từ khi hình thành, nông trại hướng đến việc kết hợp giữa giáo dục, trải nghiệm và vui chơi, qua đó giới thiệu những nét đặc trưng của đời sống nông nghiệp, văn hóa dân gian và sinh hoạt truyền thống của người dân Nam Bộ.
Không gian của Nông Trại Rồng được thiết kế theo hình ảnh một làng quê Tây Nam Bộ với ruộng lúa, vườn cây, ao mương, cầu khỉ, các khu vực trải nghiệm ngoài trời và nhiều mảng xanh tự nhiên. Trong khuôn viên nông trại, các hoạt động lao động sản xuất quen thuộc của người dân Nam Bộ được tái hiện như gieo mạ, cấy lúa, cuốc đất trồng khoai, trồng cây ăn trái, chăm sóc vật nuôi, chèo xuồng, đi cầu khỉ và tát mương bắt cá. Bên cạnh đó còn có hoạt động làm gốm, giúp người tham gia tìm hiểu quy trình tạo hình và trang trí các sản phẩm thủ công.
Ngoài các hoạt động nông nghiệp, Dragon Farm còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian như rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt vịt, kéo co, chạy xe qua cầu ván, đu dây trên sông, nhảy bao bố, nhảy dây và xếp lá dừa. Không gian văn hóa Nam Bộ cũng được thể hiện qua các chương trình đờn ca tài tử, phiên chợ truyền thống và một số hoạt động biểu diễn dân gian. Bên cạnh đó, nông trại còn giới thiệu nhiều món ăn dân dã như cá lóc nướng trui, cá kèo kho tộ, cơm cháy kho quẹt, bánh xèo và bánh khọt, góp phần tái hiện những nét đặc trưng trong đời sống sinh hoạt của người dân Nam Bộ.
Với sự kết hợp giữa cảnh quan sinh thái, hoạt động trải nghiệm, văn hóa dân gian và ẩm thực truyền thống, Nông Trại Rồng đã tái hiện hình ảnh một làng quê Tây Nam Bộ thu nhỏ ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, nơi đây góp phần giới thiệu những giá trị văn hóa và đời sống nông nghiệp đặc trưng của vùng Nam Bộ trong một không gian gần gũi với thiên nhiên.
Chèo xuồng ba lá: Tự tay chèo những chiếc xuồng ba lá bon bon trên mặt nước và nghe tiếng chim hót cá vẫy dưới bóng cây thì không còn gì bằng. Bên cạnh đó, xuôi theo dòng nước tham quan nông trại ngắm vườn cây trái xum xuê và hít thở bầu khí trong lành y như vùng miệt vườn.
Tát mương bắt cá: Một hoạt động cũng vui không kém là tát mương bắt cá. Với đội nhóm 10 người thì chúng ta sẽ được thỏa sức vùng vẫy trong một không gian đầy những chú cá.
Bịt mắt bắt vịt: Chắc hẳn trò chơi này không còn lạ lẫm gì với chúng ta nhưng nó vẫn chưa bao giờ là nhàm chán cả. Những con vịt sẽ được thả trong chuồng và người chơi sẽ bị bịt mắt và bắt
bằng được những chú vịt đó. Ai bắt trong thời gian nhanh nhất sẽ giành chiến thắng. Chúng ta có thể biên chế trò chơi này trong teambuilding để tăng tinh thần của đội nhóm.
Trồng rau cấy lúa: Trong trang phục áo bà ba quen thuộc, chúng ta sẽ được trải nghiệm một ngày làm nông dân chính hiệu khi tham gia vào quá trình cấy lúa và được học hỏi về các quy trình làm ra hạt gạo. Chương trình tour nông trại này rất phù hợp với trẻ nhằm giúp các bé quan sát và học hỏi được nhiều từ thực tế.
Tắm mưa: Và sau những trò chơi hoạt động "vất vả", chúng ta có dịp ôn lại kí ức tuổi thơ những ngày dầm mình tắm mưa quen thuộc mà gần gũi.
Ngoài ra, khu nông trại còn có rất nhiều hoạt động hay như hái nấm, làm gốm, đu dây, đi cầu khỉ,...để cho bạn có thể thoải mái tự do trải nghiệm.
Nguồn: Bài thuyết minh chính thức “Long Phước – Miền ký ức xanh”, Công ty CP Dịch vụ Lữ hành Chim Cánh Cụt phối hợp UBND phường Long Phước. Hình ảnh trích từ tài liệu thuyết minh.